Nói về Đại lễ Phật Đản 2554

TÌM HIỂU THÂN THẾ

ĐỨC THÍCH CA MÂU NI

Hàng năm Phật Giáo lấy ngày rằm tháng 4 ÂL làm ngày đại lễ Phật Đản, tức ngày lễ lớn của các Phật Tử kỷ niệm ngày khai sinh ra Đức Thích Ca Mâu Ni.

Thân Thế của Thái Tử Tất Ðạt Ða

Ðức Phật Thích Ca tên là Tất Ðạt Ða, hiệu Thích Ca một nhánh của họ Kiều Tất La, một đại quý tộc ở Ấn độ. Hợp cả tên lẫn họ là Kiều Tất La Thích Ca Tất Ðạt Ða. Ngài là con vua Tịnh Phạn nước Ca tỳ-la-vệ. Mẹ Ngài là Ma-Gia hoàng hậu. Nước Ca-tỳ-la-vệ ở Ấn độ thời ấy là một nước rất phồn thịnh, nay tức là xứ Therai, ở phía đông bắc thành Ba-la-Nại, phía nam nước Népal.

Thái tử sanh lúc mặt trời mọc, ngày rằm tháng hai Ấn-độ, tức là ngày rằm tháng tư theo lịch Tàu, vào năm 544 năm trước Tây-lịch. Như vậy đến năm 1962 là đúng với Phật-lịch 2,506. Ngài sanh dưới cây vô-ưu, trong vườn Lâm-Tỳ-Ni trong khi Bà Ma-Gia đang dạo chơi vườn cảnh.xem sim phong thuy

Thái Tử và Lời Tiên Ðoán của A Tư Ðà

Khi Thái tử sanh có nhiều điềm rất lạ, trời mưa hoa thơm, nhạc trời chúc tụng, quả đất rung động. Thái tử sanh ra có 32 tướng tốt. Ông tiên A-Tư-Ðà đến đoán tướng Ngài nói rằng : Thái tử có đủ 32 tướng tốt, nếu làm vua thì làm vị Chuyển luân thánh vương; nếu xuất gia tu hành thì sẽ thành Phật Tổ.

Sau khi sanh Thái tử được 7 ngày thời bà Ma-Gia từ trần. Vua Tịnh Phạn giao Thái tử cho người dì tên là Ma-Ha-Ba-Xà-Bà-Ðề nuôi nấng chăm sóc. Vua hết sức lo sự giáo dục cho Thái tử. Ngài cho mời những bậc giáo-sư có tiếng nhất ở trong nước về văn cũng như về võ, Thái tử rất thông minh, chỉ học qua một lần đều thông hiểu, văn võ toàn tài không ai sánh kịp. Các vị giáo sư đều bái phục.

Thái tử được vua Tịnh Phạn yêu quí, ngày ngày sống trong cảnh phong lưu sung sướng. Vua xây cho Thái tử những tòa lâu đài hợp với ba mùa của xứ Ấn-Ðộ. Mùa nóng có chỗ mát, mùa lạnh có chỗ ấm, mùa ôn-hòa có chỗ không nóng không lạnh. Cung điện trang hoàng cực kỳ mỹ lệ, vườn cảnh có đủ hoa thơm cỏ lạ. Vua Tịnh Phạn lại ban cho 500 thể nữ kiều diễm đêm ngày ca múa đàn hát; các món vui chơi trong nước, không còn thiếu một món gì. Tuy Thái tử sống trong xa hoa lộng lẫy, nhưng Ngài không bao giờ say đắm, trên mặt luôn luôn lộ một vẻ buồn kín đáo, thương người thương mọi vật. Tuy văn võ hơn người. Ngài vẫn khiêm tốn lễ độ, không kiêu căng tự đắc.boi so dien thoai

Thái Tử Lập Gia Ðình

Ðến 17 tuổi, Ngài vâng theo lời của Phụ vương kết hôn với nàng Da-Du-Ðà-La. Theo tục quý phái xưa, Thái tử đã chiến thắng tất cả thanh niên đến dự các buổi thi và lựa nàng Da-Du là người tươi đẹp thuần thục nhất trong các Công chúa muốn được làm vợ ngài. Thái tử (và công chúa) sanh được một người con tên là La-Hầu-La.

Vì có lời tiên đoán của ông A-Tư-Ðà, nên vua Tịnh Phạn không cho Thái tử tiếp xúc với cảnh khổ; nhưng vì Thái tử khẩn khoản cầu xin, vua Tịnh Phạn để cho Thái tử du ngoạn và tiếp xúc với thực trạng của cuộc đời.

- Cảnh khổ thứ nhất : Sống là khổ. Một hôm Ngài theo vua cha dự lễ cày cấy. Thấy người và vật vất vả, khổ đau dưới ánh nắng thiêu đốt để đổi lấy bát cơm, chim chóc dành nhau mổ ăn các loài côn trùng giẫy giụa trên luống đất mới. Ngài thương xót buồn rầu vô hạn. Ngài thương chúng sanh đau khổ vì sống, và vì món ăn phải giết lẫn nhau.y nghia so dien thoai

- Ba cảnh khổ của cuộc đời : Già, bịnh, chết. Lần sau Ngài lại xin phép Phụ vương ra cửa thành dạo chơi. Lần thứ nhứt Ngài gặp một ông già tiều tụy, da nhăn, lưng còm, mắt lòa, tai điếc. Lần thứ hai Ngài thấy một người tật bệnh bụng to cổ trướng rên la khổ sở. Lần thứ ba Ngài gặp một đám tang, thân nhân gào khóc thảm thiết. Ngài nhận hiểu được rằng: sống ở đời giàu nghèo sang hèn đều bị đau khổ đoanh vây áp bức: già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ.

Trước thực trạng đau khổ của kiếp người, Ngài bị xúc động mạnh mẽ. Sau khi thấy sự đau khổ của chúng sanh, Ngài luôn luôn tưởng nghĩ đến chúng sanh, nghĩ đến những nỗi đọa-đày lầm than của chúng sanh, và Ngài luôn luôn trù nghĩ suy tầm phương pháp cứu chúng sanh thoát khỏi biển trầm luân khổ ải. Mặt Ngài thường hiện vẻ lo buồn trầm mặc. Ngài lo buồn cho chúng sanh, Ngài trầm mặc để tìm phương pháp cứu độ chúng sanh thoát khỏi đau khổ.

- Cảnh giải thoát. Lần thứ tư ra dạo chơi ngoài cửa thành, Ngài gặp một Vị Sa-môn thanh cao bình-tỉnh. Ngài hỏi rằng:ỗNgài là ai?ỗ Vị Sa-môn đáp: “Tôi là người đã thoát khỏi sự đau khổ của già, đau, chếtỗ . Thái tử liền hiểu được rằng, chỉ xuất gia tìm đạo là phương pháp cứu chúng sanh thoát khỏi bể khổ mênh mông.phong thuy so dien thoai

- Thái tử xuất gia. Một đêm kia, sau buổi yến tiệc linh đình, Ngài thừa lúc mọi người đang ngủ say, lặng lẽ ra khỏi cửa thành. Ngài định đánh thức bà Da-Du-Ðà-La ngõ đôi lời từ biệt, nhưng sợ lòng nhi-nữ hay bịn-rịn có thể ngăn trở ý-định, Ngài chỉ đành nhìn vợ con lần cuối cùng rồi gọi người hầu cận trung thành là Xa-Nặc, thắng ngựa Kiền Trắc, hai thầy trò ra đi, quân canh còn mãi ngủ chẳng hay biết gì cả. Ngài ra đi lúc 19 tuổi, vào ngày trăng tròn tháng hai.xem sim hop tuoi

Kết Luận

Trong lịch sử Phật Giáo nói, khoảng năm 560 đến 482 trước công nguyên (Tr.CN) ở Ấn Độ. Siddhartha Gautama là tên vị hoàng tử của một vương quốc nằm phía bắc Ấn Độ (nước Ấn Độ thời bấy giờ cũng đang bị chia năm xẻ bảy). Năm ngài 29 tuổi sau những buổi đi thị sát thực tế ngoài dân chúng, hoàng tử thấy cuộc đời đầy sự đau khổ, đời sống giữa người nghèo và người giàu quá chênh lệch, mà người nghèo lại chiếm đại đa số trong xã hội.

Bấy giờ xã hội Ấn Độ được chia làm bốn giai cấp :

- Bậc thứ nhất : các tu sĩ đạo Bà La Môn làm chủ, coi riêng việc tế tự.

- Bậc thứ hai : giới Lý Đế Lợi tức các nhà quý tộc làm chủ, coi về chính trị hành chánh.

- Bậc thứ ba : là Phệ Xá tức hạng người trưởng giả giàu có, giới địa chủ chuyên áp bức kẻ dưới.

- Bậc thứ tư : là người nghèo lao động, hạng cùng đinh chỉ đi làm nô lệ cho địa chủ, là thành phần đông đảo nhất.

Vì thế hoàng tử Gautama muốn đi tìm ý nghĩa chân thật của cuộc sống, ngài đã từ bỏ địa vị vương gia, bỏ lại ba người vợ và một con trai, đi đến núi Toàn Sơn tìm đường tu khổ hạnh như người cùng đinh.

Trải qua nhiều chông gai thử thách, ma quỷ cám dỗ nhưng ngài nhất quyết nhập định tại gốc cây bồ đề tại làng Bihah.

Năm 528 Tr.CN, ngài thấy sự soi sáng mà ngài đang tìm và hiểu nguyên nhân của sự đau khổ, rồi ngài truyền dạy triết lý Buddha (có nghĩa tâm linh được soi sáng) cho các đệ tử xong thì đi vào cõi niết bàn. Trước lúc viên tịch ngài đã thốt lên câu “Nay ta đã lên cõi Niết Bàn, nghĩa là lên đến chỗ cực lạc của thế giới”.sim hop tuoi

Từ đó triết lý Buddha ra đời, người ta gọi vắn tắt là đạo Phật, đặt tên ngài là Sakyamuni (Thích Ca Mâu Ni); Truyền thuyết Phật Giáo cho rằng ngài là con của Đức Phật Tổ Như Lai giáng thế.

Sau khi Đức Thích Ca Mâu Ni viên tịch, các đệ tử của ngài gom góp các triết lý, các di ngôn lại thành 3 quyển sách gọi là kinh Tam Tạng (Tạng có nghĩa là chứa, Tam Tạng là các lời Đức Phật nói chứa vào trong ba quyển kinh này) gồm : Kinh tạng (những lời về luân thường đạo lý), Luật tạng (những lời về giới cấm) và Luận tạng (những phát triển trong triết lý đạo Phật).

Hiện nay Phật giáo chia làm 2 nhóm tu : nhóm Tiểu thừa tu rất đơn giản và nhóm Đại thừa có nhiều sắc thái phức tạp.

Trở lại với ngày sinh của Đức Thích Ca Mâu Ni, có sách ghi ngài sinh vào ngày mùng 8 tháng 4 ÂL nhưng tính theo lịch mới của Grégorius (thế kỷ XVI) thì lệch đi 7 ngày so với âm lịch. Nên các nước điều chỉnh ngày theo lịch mới và ngày sinh của Đức Phật nhằm vào ngày rằm tháng 4.xem số điện thoại

Theo truyền thuyết trước lúc Hoàng Hậu mang thai ngài, bà nằm mộng thấy một người vàng đến đầu thai mà sinh ra ngài (có sách viết, bà nằm mộng thấy một một con voi trắng có sáu ngà biến thành hào quang soi vào bụng, rồi bà mang thai đủ 10 tháng. Đến lúc sinh bà thấy bên sườn phía phải có một bông sen nở ra để đỡ ngài lên, rồi có hai con rồng phun nước tắm cho ngài và có bách thần xuống chăm sóc.

Khi mới lọt lòng da ngài màu vàng, còn lông tóc dựng ngược đã biết đi bảy bước, một tay chỉ trời một tay chỉ đất mà nói : “Trên có trời, dưới có đất, duy có ta là quý hơn tất cả”)

Trong ngày Lễ Phật Đản, các chùa cử hành lễ rất trọng thể, các Phật tử cung kính ngồi nghe các Hòa Thượng, Thượng Tọa thuyết giảng kinh Phật. Còn ở gia đình họ dâng hương lên bàn thờ Phật với tấm lòng mộ đạo.

Lễ Phật Đản chỉ có dâng hương và nghe kinh tại các chùa, ngoài ra không có không khí hội hè như Lễ Giáng Sinh của người theo đạo Thiên Chúa.

SimPhongThuy.Vn

(cách xem số điện thoại của mình chinh xác nhất)

Mời nhập ngày tháng năm sinh để chọn sim hợp tuổi với bạn!